TÌM HIỂU CỘI NGUỒN THƯỚC ĐO THỜI
GIAN
Thời gian là một khái niệm mà
theo cách nào đó,ngày nay chúng ta vẫn xem là điều hiển nhiên. Đã bao giờ bạn
thắc mắc tại sao 1 năm lại có 12 tháng, hay tại sao tháng 9 lại có 30 ngày? Tại
sao ta lại có các múi giờ khác nhau? Tại sao một ngày lại có 86.400 giây?
Trong bài này chúng ta sẽ làm rõ các khái niệm về thước đo thời gian.
Về bản chất, thời gian là một một
khái niệm trừu tượng và khó để hiểu thấu đáo. Chúng ta chẳng thể nhìn thấy nó
hay cảm nhận nó, chỉ biết rằng nó đang diễn ra. Trong lịch sử, con người đã
dùng nhiều cách để đo thời gian.Hầu hết mọi nền văn hóa đều mặc định thời điểm
trời bắt đầu sáng là lúc khởi đầu của thời gian. Theo sau ngày là đêm, khi
ánh mặt trời bắt đầu tắt. Cơ thể con người cũng tự điều chỉnh để theo vòng
quay này thông qua việc ngủ, và mỗi sáng khi thức dậy chúng ta lại bắt đầu 1
ngày mới.
Chúng ta sử dụng đồng hồ để chia ngày ra thành nhiều thời điểm nhỏ hơn, rồi lại dùng lịch để phân nhóm các ngày lại thành thời điểm lớn hơn. Cả 2 hệ thống thời gian đều có những điểm hết sức thú vị mà ta sẽ tìm hiểu tiếp theo đây. Đo thời gian Phép đo thời gian có phạm vi rất rộng, ở đây chúng ta tìm hiểu một số đơn vị đo thông thường, xắp xếp từ đơn vị thời gian ngắn nhất đến dài nhất. • 1 picosecond (1 phần nghìn tỷ giây) – Đây là khoảng thời gian ngắn nhất mà chúng ta có thể đo chính xác. • 1 nanosecond (1 phần tỷ giây) – Trung bình, một máy tính cá nhân mất khoảng từ 2 đến 4 nanosecond để thực thi một mệnh lệnh từ một phần mềm nào đó. • 1 microsecond (1 phần triệu giây). • 1 millisecond (1 phần nghìn giây) – Đây là khoảng thời gian phơi sáng ngắnnhất của phim trong một máy ảnh thông thường. Một bức ảnh được chụp trong1/1ngàn giây sẽ bắt được chuyển động nhỏ nhất của con người. • 1 centisecond (1 phần trăm giây) – Đây là khoảng thời gian mà một tia chớpnổ. • 1 decisecond (1 phần mười giây) – Khoảng thời gian của 1 cái chớp mắt. • 1 second (1 giây) – Trái tim của một người trung bình đập 1 lần/1 giây. • 60 giây – 1 phút (minute), bằng thời gian của một đoạn quảng cáo dài. • 2 phút – Khoảng thời gian dài nhất mà một người bình thường có thể nín thở. • 5 phút – Là khoảng thời gian lâu nhất mà bạn có thể chịu đựng khi đợi đèn đỏ. • 60 phút – 1 tiếng đồng hồ (hour), là khoảng thời gian lâu nhất mà bạn có thểngồi yên trong lớp học mà không trở nên đờ đẫn. • 8 tiếng – Thời gian làm việc tiêu biểu hàng ngày ở nhiều nước trên thế giới,cũng là thời gian ngủ cần thiết cho mỗi người mỗi đêm. • 24 tiếng – 1 ngày; là khoảng thời gian mà trái đất quay hết 1 vòng quanh trụccủa nó. • 7 ngày – 1 tuần. • 40 ngày – Là khoảng thời gian lâu nhất mà con người có thể tồn tại mà khôngcó thức ăn. • 365,24 ngày – 1 năm; khoảng thời gian trái đất hoàn tất một vòng quay quanhmặt trời. • 10 năm (year) - 1 thập kỷ. • 75 năm – Tuổi thọ trung bình của con người. • 5.000 năm – Chiều dài lịch sử được ghi chép lại. • 65 triệu năm – Khoảng thời gian kể từ khi loài khủng long tuyệt chủng. • 200 triệu năm – Khoảng thời gian kể từ khi động vật có vú bắt đầu xuất hiệntrên trái đất. • 3,5 đến 4 tỉ năm – Khoảng thời gian kể từ lúc bắt đầu có sự sống trên tráiđất. • 4,5 tỉ năm – Tuổi của trái đất. • 10 đến 15 tỉ năm – Tuổi dự đoán của vũ trụ kể từ vụ nổ lớn big bang. Một ngày dài bao nhiêu? Một ngày là khoảng thời gian trái đất tự quay quanh trục của nó,nhưng chính xác nó mất bao lâu để hoàn tất vòng quay? Có nhiều quan điểm khácnhau, nhưng cả thế giới đã đồng thuận tiêu chuẩn hóa những khoảng thời giansau: • Một ngày bao gồm 2 giai đoạn 12 tiếng đồng hồ, tổng cộng sẽ có24 tiếng đồng hồ. • Một tiếng có 60 phút. • Một phút có 60 giây. • Giây lại được chia nhỏ ra theo hệ thập phân thành những đơn vị nhỏ hơn nhưphần trăm hay phần ngàn giây. Cũng phải nói rằng cách chia thời gian như hiện tại khá “rắc rối”.Chúng ta chia 1 ngày ra làm đôi, rồi lại chia mỗi nửa ra 12 phần, rồi mỗi phầnnày lại chia 60, rồi chia 60 thêm lần nữa…Chả trách trẻ nhỏ phải chật vật học cách tính thời gian.
Tại sao lại có 24 tiếng trong 1 ngày?
Không ai thật sự biết chắc điều này. Tuy nhiên giải thích đượcnhiều người tán thành nhất là: ngày xưa, trước khi con người biết chữ viết thìhọ đã biết dùng các ngón tay để đếm. Và một cách đếm được sử dụng rộng rãi ở những nền văn minh xưa là dùng ngón tay cái đếm các đốt ngón tay trên cùng 1bàn tay. Như vậy, ngón cái sẽ đếm 4 ngón tay còn lại trên bàn tay, mỗi ngón taylại có 3 đốt, 4x3=12, đó là số giờ đồng hồ họ phân chia thời gian ban ngày, và tương tự cho thời gian ban đêm. Vậy là chúng ta có 24 giờ 1 ngày. Tại sao lại có 60 phút/1 giờ, và 60 giây/1 phút? Cũng chưa ai biết rõ điều này. Tuy nhiên, những người Ai Cập đã có thời sử dụng một bộ lịch có 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, tổng cộng họ có 360ngày/1 năm. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng đây chính là lý do chúng ta chia đường tròn thành 360 độ. Nếu chia 360 cho 6 ta được 60, và 60 cũng là con số cơ sở trong hệ thống toán học của người Babylon. a.m và p.m có nghĩa là gì? Đây là chữ viết tắt của ante meridiem – trước buổi trưa, postmeridiem – sau buổi trưa, và đây là sáng kiến của người La Mã. Theo Daniel Boorstin trong cuốn sách của ông có tựa “The Discoverers”, thì đây là cách phân chia thời gian một ngày làm 2 phần (trước và sau buổi trưa) của nười La Mã. Người hiện đại tính thời gian dựa trên giây. Một ngày được định nghĩalà khoảng thời gian của 86.400 giây, và một giây lại được chính thức định nghĩa bằng 9.192.631.770 lần dao động của một nguyên tử cesium 133 trong đồng hồ nguyên tử. Múi giờ Mọi người ở khắp nơi trên hành tinh đều mong thấy mặt trời ở trên đỉnh đầu vào giữa trưa. Nếu chỉ có 1 múi giờ thôi thì điều này không thể xảy ravì cứ mỗi giờ trôi qua trái đất lại quay hết 15 độ. Vì vậy, trái đất được chia thành 24 múi, mỗi múi 15 độ, và đồng hồ sẽ được đặt tùy thuộc vào mỗi múi giờ.Mỗi múi giờ cách nhau 1 tiếng đồng hồ. Ví dụ, lãnh thổ nước Mỹ được chia thành 4 múi giờ: múi giờ miền Đông (East), múi giờ Trung tâm (Central), múi giờ Miềnnúi (Mountain), và múi giờ Thái Bình dương (Pacific). Khi ở múi giờ miền Đônglà giữa trưa, thì ở múi giờ Trung tâm là 11 a.m, ở múi giờ Miền núi là 10 a.mvà ở múi giờ Thái Bình dương là 9 a.m.
Bản
đồ múi giờ trên thế giới.
Điều chỉnh đồng hồ để kéo dài ngày vào mùa hè(Daylight-saving Time - DST) Trong chiến tranh thế giới I (CTTG I), nhiều nước bắt đầu điềuchỉnh đồng hồ vào một số thời điểm trong năm nhằm điều chỉnh giờ ban ngày,trong những mùa ban ngày dài hơn ban đêm, để khớp với thời gian con người còn thức khi trời sáng. Trong CTTG I thì mục đích của việc này là tiết kiệm nhiên liệu dùng để thắp sáng. Ngày nay, Mỹ và vài quốc gia khác vẫn áp dụng việc điều chỉnh này.Ở Mỹ, trước đây, thời điểm bắt đầu điều chỉnh đồng hồ là vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng 4, và kết thúc vào Chủ Nhật cuối cùng của tháng 10. Tuy nhiên,kể từ năm 2007 trở đi, DST sẽ bắt đầu vào 2 a.m của ngày Chủ Nhật thứ 2 củatháng 3 và kết thúc vào 2 a.m ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng 11. Theo đó, đồng hồ sẽ được vặn tới 1 tiếng vào mùa xuân, và vặn lui 1 tiếng vào mùa thu. Như vậy, vào mùa xuân, bạn mất mỗi ngày 1 tiếng nhưng sẽ lấy lại vào mùa thu. Vào mùa đông, Mỹ theo giờ tiêu chuẩn. Vào mùa hè, họ áp dụng DST. Tuy nhiên có một số bang (như Arizona) không quan tâm đến DST và vẫn giữ giờ tiêu chuẩn suốt cả năm. Lịch năm Cách tính năm khá rõ ràng và dễ hiểu. Con người tạo ra khái niệm năm dựa trên sự lặp đi lặp lại theo chu kỳ của các mùa. Việc dự đoán thời điểm bắt đầu của các mùa rất quan trọng trong nông nghiệp. Hầu hết cây cối đều đâm chồi và cho trái vào những thời điểm nhất định trong năm. Một năm là thời gian trái đất quay quanh mặt trời. Thời gian nàykhoảng 365 ngày. Nếu tính chính xác thì con số này sẽ là 365.242199 ngày. Chúng ta lấy những số lẻ bằng cách thêm vào một ngày sau mỗi 4 năm, và ta đc con số xấp xỉ là 365,25 ngày/1 năm. Đây cũng là lý do ta có năm nhuận, là những năm dài hơn 1 ngày so với năm bình thường (tính theo dương lịch).Cách tính năm nhuận (năm dương lịch):Theo lịch Gregory - loại lịch tiêu chuẩn hiện nay được dùng trên hầu khắp thế giới thì những năm nào chia hết cho 4 được coi là năm nhuận. Trong năm nhuận, tháng 2 có 29 ngày thay cho 28 ngày. Cứ 4 năm lại thêm 1 ngày vàolịch bởi vì một năm dương lịch dài khoảng 365 ngày và 6 giờ. Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ đối với nguyên tắc này vì một năm dương lịch ngắn hơn 365.25 ngày một chút. Những năm chia hết cho 100 chỉ được coi là năm nhuận nếu chúng cũng chia hết cho 400. Ví dụ, 1600và 2000 là các năm nhuận nhưng 1700, 1800 và 1900 không phải năm nhuận. Tương tự như vậy, 2100, 2200, 2300, 2500, 2600, 2700, 2900 và 3000 không phải năm nhuận nhưng 2400 và 2800 là các năm nhuận. Theo nguyên tắc này thì trung bình một năm có 365 + 1/4 − 1/100 + 1/400 = 365.2425 ngày, tức là 365 ngày, 5 giờ,49 phút và 12 giây. Lịch tháng Khái niệm tháng bắt đầu từ mặt trăng. Khi xem lịch, chúng ta thấycó tháng có 28 ngày, tháng lại 29 ngày, một số có 30 ngày và số còn lại có 31ngày. Sau đây là lý do: • Người La Mã xưa sử dụng bộ lịch chỉ có 10 tháng (bắt đầu từ năm738 TCN). Các tháng này có tên (tiếng La tinh) là: Martius, Aprilis, Maius,Junius, Quintilis, Sextilis, September, October, November and December, trongđó, các tên từ Quintilis đến December trong tiếng La tinh có nghĩa là 5, 6, 7,8, 9, 10. Bộ lịch này đếm thiếu khoảng 60 ngày. • Để khắc phục, sau này người ta thêm 2 tháng Januarius và Februarius tiếp vàosau. • Vào năm 46 TCN, hoàng đế Julius Caesar cho đổi lịch nhưng vẫn giữ nguyên têngọi của các tháng. Theo lịch mới này thì các tháng có 30 hoặc 31 ngày, trừ tháng Februarius ở cuối cùng có 29 ngày. Cứ mỗi 4 năm, tháng Februarius lạiđược cộng thêm 1 ngày (lý do đã nói phần trên). Sau đó, hoàng đế lại quyết định lấy tháng Januarius làm tháng đầu tiên của năm (thay cho tháng Martius trướckia), vì vậy tháng Februarius trở thành tháng thứ 2. Đây là lý do tại sao ngày nhuận lại nằm ở thời điểm “bất thường” này trong năm.• Sau khi Julius mất,người La Mã đã đổi tên tháng Quintilis thành Julius (sau này sang tiếng Anhthành July) để tưởng nhớ vị hoàng đế này. Tương tự, sau này tháng Sextilis đượcđổi thành Augustus (thành August) để tưởng nhớ hoàng đế Augustus. Augustus đãdời 1 ngày từ tháng Februarius sang tháng Augustus để nó có cùng số ngày với tháng Julius.
(Các tháng tương ứng (từ 1 đến
12) trong tiếng Anh ngày nay là January, February, March, April, May, June,
July, August,September, October, November, December).
Ngày, tháng, năm đều có nguồn gốc tự nhiên của nó, nhưng tuần thì không. Khái niệm tuần xuất phát từ Kinh Thánh. "Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của Người. Nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ kính Giavê Thiên Chúa của người." Vì vậy người theo Thiên chúa giáo có ngày sabbath (là ngày thứ 7 theo đạo Do thái, và Chủ nhật theo đạo Cơ đốc). Người La Mã đặt tên các ngày trong tuần theo tên của mặt trời, mặt trăng, và của 5 hành tinh mà họ biết lúc bấy giờ: Sun (mặttrời), Moon (mặt trăng), Mars (sao Hỏa), Mercury (sao Thủy), Jupiter (sao Mộc),Venus (sao Kim), Saturn (sao Thổ). Tiếng Anh mượn 3 tên cho 3 ngày trong tuần là Sunday (CN), Monday (T2), và Saturday (T7), còn các tên khác được họ lấytheo tên các vị thần Anglo-Saxon: Tuesday (T3) từ Tiu (hay Tiw, tiếng Anglo-Saxon của Tyr – thần chiến tranh), Wednesday (T4) mượn từ Woden – cha củaTyr, Thursday (T5) – bắt nguồn từ Thor, vị thần sấm chớp; Friday mượn từ Frigg’s day (Frigg là vợ của Woden, biểu tượng của tình yêu và sắc đẹp).
(Lý Học Đông Phương)
|
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015
THỜI GIAN
Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014
giao hưởng số 9
BEETHOVEN VÀ BẢN GIAO HƯỞNG SỐ 9
Hoàn
cảnh sáng tác
Hiệp hội London (The Society of London -
sau này là Royal Philharmonic Society) đặt hàng bản giao hưởng vào năm 1817.
Beethoven bắt đầu làm việc với bản giao hưởng cuối cùng vào năm 1818 và kết
thúc vào đầu năm 1824. Khoảng 10 năm sau bản giao hưởng số 8. Tuy nhiên,
Beethoven bắt đầu sáng tác tác phẩm này sớm hớn. Ông đã muốn đặt An die
Freude vào nhạc rất sớm từ năm 1793. Ông đã làm điều đó, nhưng thật không may
tác phẩm này bị mất vĩnh viễn. Từ chủ đề cho chương scherzo có thể lần ngược
về bản fugue được viết vào năm 1815.
Đoạn mở đầu cho phần thanh nhạc của bản
giao hưởng gây ra rất nhiều khó khăn cho Beethoven. Bạn ông, Anton Schindler,
sau này kể lại: "Khi anh ấy bắt đầu sáng tác chương 4, sự nỗ lực bắt đầu
như chưa bao giờ có. Mục đích là tìm ra cách đi vào phần mở đầu của đoạn tụng
ca của Schiller. Một hôm Beethoven nhảy vào phòng và la lớn "Tôi tìm ra
rồi, tìm ra rồi" Sau đó anh ấy cho tôi xem phác thảo của những từ
"cho chúng tôi hát bản tụng ca của Schiller bất tử". Tuy nhiên, đoạn
mở đầu đó đã không có trong sản phẩm cuối cùng, và Beethoven đã trải qua rất
nhiều thời gian viết lại phần đó cho đến khi nó thành hình dáng như chúng ta
thấy ngày hôm nay
National Youth Choir of Great Britain
West-Eastern Divan Orchestra
Daniel Barenboim, conductor
Royal Albert Hall, 27 July 2012
Giao hưởng số 9 của Beethoven thuộc vào số
ít tác phẩm của nền nghệ thuật thế giới, như những đỉnh núi cao nhất, trội
hơn tất cả những gì mà những thiên tài nghệ thuật của nhân loại tạo nên. Cũng như những bài thơ của Homerk "Thần
khúc" (Divina commedia) của Dante, tranh Đức mẹ của Raphael,
"Faust" của Goethe hoặc khúc Messe (Die hohe Messe) của Bach, giao hưởng số 9, là con đẻ của thời
đại của mình, đồng thời là sự thể hiện những lý tưởng và hoài bão của loài
người. Nhạc sĩ hoàn thành bản giao hưởng vào cuối đời nhưng đã nghiền ngẫm
trong suốt cuộc đời mình. Hồi còn trẻ, say sưa với những tư tưởng của cuộc cách mạng Pháp,
Beethoven tìm tòi thể hiện âm nhạc bài thơ ca ngợi (Ode) "Hướng tới niềm
vui" (Ode to Joy) của Schiller, mà ông đã lấy lời thơ ấy viết màn hợp xướng
chương cuối của giao hưởng số 9. Những tư tưởng về tình hữu ái nhân loại, về
tự do được đưa vào giao hưởng đã thôi thúc ông mãi trên suốt cả con đường
sáng tác. Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề âm nhạc của chương cuối nảy sinh
trước khi có bản giao hưởng, và có thể tìm thấy trong các tác phẩm khác của
Beethoven không ít những hình ảnh tương tự với chủ đề ấy. Nói một cách khác,
giao hưởng số 9 - là sự tổng kết những tìm tòi tư tưởng nghệ thuật của nhạc
sĩ.
Bản giao hưởng được xây dựng trong thời
gian mà thời kỳ cách mạng Pháp đã đi vào dĩ vãng, và thế lực phản động đang
ngự trị ở Châu Âu. Những hy vọng đã đổi thành thất vọng. Trong nghệ thuật đã
nảy sinh một trào lưu mới - chủ nghĩa lãng
mạn, thể hiện những tâm trạng mới. Công trạng của người nghệ sĩ ca
ngợi Trí tuệ, Tự do, Niềm tin trong thời kỳ đen tối ấy ấy càng có ý nghĩa lớn.
Giao hưởng số 9 - một bản tuyên ngôn âm nhạc của thế kỷ 19, như Lenin nói: "tiến hành dưới khẩu
hiệu của cuộc cách mạng Pháp.
Giao hưởng số 9 - tác phẩm cải cách sâu sắc.
Lần đầu tiên lời hát được đưa vào giao hưởng. Thủ pháp táo bạo ấy rất cần thiết
đối với Beethoven. Sự phát triển của tư tưởng của bản giao hưởng đã gợi ý việc
đưa lời hát vào như tiếng nói của nhân loại, tính cụ thể của lời ca cần cho
việc diễn đạt kết luận tư tưởng chủ yếu của quan điểm triết học to lớn. Nhưng
cái đó không hạn chế cái mới của Beethoven. Ông đổi vị trí của Scherzo và
Adagio, viết những đoạn ngoài cùng của chương Scherzo theo hình hình thức sonata
allegro. Thiên tài Beethoven đã đạt đến độ trưởng thành tột bực trong giao hưởng
số 9. Bản giao hưởng gây xúc động mạnh bởi tính bi kịch của những nỗi đau khổ
của nhân loại, cuộc đấu tranh tư tưởng lớn lao, tư tưởng cao cả, nguồn cảm hứng
của chủ nghĩa nhân
văn tổng kết con đường sáng tác của Beethoven - nhà soạn nhạc
giao hưởng. Bản giao hưởng số 9 mở ra những triển vọng mới đối với nền nghệ
thuật âm nhạc của những thế hệ tiếp theo.
Chương
I
Allegro ma non troppo, un poco maestoso.
Thời gian xấp xỉ: 15 phút
Trong màn sương tối lờ mờ, bất định, hiện
ra phần mở đầu của bản giao hưởng. Hồi hộp, đầy bí ẩn của đợi chờ, tiếng vê
(tremolo) chập chờn mờ ảo của violin, trên nền tremolo ấy thấp thoáng những
bóng lờ mờ các motiv, nhạc sĩ đang lần dò những tuyến mạch của chủ đề chính
sau này, nó đã hình thành, và sau một sự chuẩn bị lâu dài, bằng sự nỗ lực
hùng mạnh của dàn nhạc, cuối cùng, khẳng định chủ đề chính. Xuất hiện hình tượng
thuyết nguồn gốc vũ trụ, dường như từ bóng tối của vô biên vũ trụ xuất hiện
và tuyên bố về mình một cách uy quyền, mệnh lệnh: "Tôi đang có ở đây". Nhưng vũ trụ sinh ra xù xì, đầy rẫy
những mâu thuẫn sôi sục, nảy sinh không khí đấu tranh, xung đột. Sự phát triển
sôi động đó dẫn đến chủ đề phụ - phản đề trữ tình đối với chủ đề một, âm nhạc
mang màu sắc trưởng, xuất hiện cao trào anh hùng ca - những tia sáng đầu tiên
của thắng lợi. Và bỗng nhiên trở lại một sự yên lặng hung dữ, những tiếng kèn
hiệu nghiêm trọng thông báo trận chiến đấu bắt đầu, gợi lại trong ký ức những
hình tượng người khổng lồ một mắt trong sử thi anh hùng cổ đại. Ngôn ngữ của
bản giao hưởng bị mất tính chất tạo hình, nhưng thay vào đó là áp lực kịch
tính và thoái trào kiệt sức, trong âm thanh rùng rợn của chủ đề chính, trong
tính nhất quán, nhằm một mục tiêu nhất định của sự phát triển âm nhạc, đã thể
hiện được hình tượng uy nghi, hùng tráng của hành động, của cuộc chiến đấu.
Giai đoạn tột cùng của cuộc chiến đấu trùng hợp với sự bắt đầu phần nhắc lại
(Reprise). Từ lúc ấy sự hoạt động đưa đến không thương xót sự kết thúc bi thảm
trong đoạn đuôi (Coda). Âm nhạc có sắc thái tang lễ trọng thể. Tuy vậy
"ý kiến tối hậu" không thể bác bỏ được vẫn thuộc về chủ đề chính
quyền uy và hùng dũng.
Chương
II
Scherzo: Molto vivace - Presto. Thời gian xấp xỉ: 10
phút.
Phá bỏ tập tục cũ, Beethoven để khúc
Scherzo ngay sau chương I. Nó xóa bỏ yếu tố bi thảm lúc đầu - Scherzo - cảnh
huy hoàng có khí thế và hiệu lực, nó lao nhanh dồn dập như một trận bão lửa,
tạo nên ấn tượng lúc thì mang tính chất anh hùng ca, lúc thì phóng túng, mơ mộng.
Nhưng trong dòng âm thanh như đuổi theo nhau đó khuôn phép nghiêm ngặt về nhịp
điệu vẫn khống chế. Những phần ngoài cùng được viết ở hình thức sonata
allegro (lại một cải tiến mới mẻ nữa) tương phản với phần trio mang tính chất
phong cảnh phong tục, với nhiều màu sắc tươi sáng của đồng quê.
Chương
III
Adagio molto e cantabile
- Andante Moderato - Tempo Primo - Andante Moderato - Adagio - Lo Stesso
Tempo. Thời gian xấp xỉ: 16 phút.
Thể hiện lý tưởng đạo đức, vẻ đẹp và tính
chất hùng vĩ của âm nhạc đầy cảm hứng bởi ý tưởng cao cả về đạo đức và hoàn
thiện, sứ mệnh và nghĩa vụ của con người. Tính chất minh bạch sáng sủa, sự
hài hòa của lý trí và tình cảm bao trùm niềm suy tư triết lý tỉnh táo ấy.
Dòng nhạc thong thả, đầy đặn, sự luân chuyển và bổ sung lẫn nhau của hai chủ
đề và các biến tấu của chúng rất chặt chẽ và hợp lý, hơi thở của giai điệu vô
cùng rộng rãi. Điệu trưởng chiếm ưu thế hầu như khắp nơi trong nền tảng dàn
nhạc đầy chất giai điệu tươi sáng, chỉ có hai lần bị phá vỡ do sự xâm nhập của
chủ đề chính của chương I - như muốn nhắc rằng đạt được sự rõ ràng và cân đối
ấy phải trả bằng một giá đắt.
Chương
IV
Presto; Allegro molto assai (Alla marcia); Andante maestoso;
Allegro energico, sempre ben marcato. Thời
gian xấp xỉ: 24 phút
Chương cuối với phần đầu tràn lên dữ dội,
khôi phục cái lạc điệu tưởng như đã được khắc phục. Nhưng điều đó chỉ là sự cố
gắng để quay về. Nhưng sự trở về đã không thể có được logic phát triển của
"những sự kiện" nhất quyết dẫn đến thắng lợi của niềm vui. Những chủ
đề của những chương trước - những đoạn đường đã bị vượt qua - nối tiếp nhau
đi, nhưng chủ đề nào cũng bị bè cello "cự tuyệt" bằng cách nói
cương quyết: không một chủ đề nào có thể nói là chủ đề của chương cuối.
Cần phải tìm cái nào đó có phẩm chất mới,
hơn hẳn tất cả những gì đã có từ trước đến nay và có thể nói lên kết quả phát
triển tư tưởng âm nhạc của bản giao hưởng. Một khoảnh khắc yên lặng trong dàn
nhạc. Và cuối cùng chủ đề mới ấy xuất hiện, chủ đề Niềm Vui. Chính nhờ tính
chất mộc mạc mà nó được xem như một sự phát triển rõ ràng.
Đầu tiên là cello và contrebass diễn tấu chủ
đề ấy, sau đó từng nhóm nhạc cụ khác và cuối cùng, cả dàn nhạc. Đó là niềm
vui đã vượt qua đau khổ, chiến thắng cái ác, là thành quả của sự hài hòa cân
đối cao độ của nội tâm và sự thoải mái về tinh thần của con người. Âm thanh của
chủ đề đạt đến quy mô to lớn, và một lần nữa, lần cuối cùng, nhạc tố hốt hoảng,
kinh hoàng trong chương I lại chen vào. Và lúc đó, lần đầu tiên nghe thấy tiếng
nói của con người: "Ồ các bạn ơi!
Không phải những âm thanh ấy! Tốt hơn hết chúng ta hãy hát cái gì vui tươi!"
Chủ đề Niềm Vui xuất hiện ở các giọng đơn ca và hợp xướng: "Ôi Niềm Vui thần thánh tuyệt vời,
nữ thần của bầu trời! Lòng hân hoan, chúng tôi bước vào thánh đường của người". Từ lúc đó Niềm Vui vô
tận, không gì làm u tối đi, được giữ mãi cho đến cuối chương. Hơn thế nữa, Niềm
Vui được thể hiện trong tất cả sự phong phú về giới hạn và sắc thái. Chủ đề
thông qua một loạt biến hóa, trở thành khúc ca, bài hát ca ngợi tươi sáng.
sưu tầm
|








.jpg)










